Lộ trình thăng tiến ngành marketing: mỗi nấc khác nhau ở đâu

Có lần một bạn nhân viên hỏi tôi: “Chị ơi, làm bao lâu thì em lên trưởng nhóm?” Tôi hỏi lại: “Em muốn lên trưởng nhóm để làm gì?” Bạn ấy im một lúc rồi bảo chưa nghĩ tới. Câu hỏi đó không có ý làm khó. Lộ trình thăng tiến ngành marketing nhìn trên giấy khá rõ ràng, nhưng mỗi nấc thật ra đòi một kiểu người khác nhau, và không phải ai cũng nên leo theo cùng một hướng.

Tôi kể lại từng nấc theo những gì tôi đã trải qua và đã thấy ở đồng nghiệp. Tên chức danh ở mỗi công ty có thể khác, quy mô càng nhỏ thì số nấc càng ít, nên bạn coi đây là bản đồ tham khảo chứ không phải quy định.

I. Các nấc thường gặp

Thực tập sinh và nhân viên mới

Ở nấc này bạn chủ yếu làm theo hướng dẫn: soạn bài theo dàn ý có sẵn, đăng bài theo lịch, gộp số liệu, chuẩn bị tài liệu cho buổi họp. Người ta không chờ bạn có ý tưởng lớn. Người ta chờ bạn làm đúng hạn, ít lỗi, và hỏi khi không hiểu.

Thứ giúp bạn qua nấc này nhanh là sự chủ động nhỏ. Làm xong việc được giao thì hỏi thêm vì sao làm vậy, đọc lại báo cáo của người đi trước, đề xuất một cải tiến nhỏ có lý do. Tôi để ý rất kỹ những bạn làm như vậy.

Chuyên viên

Đây là lúc bạn tự cầm một mảng. Có thể là toàn bộ nội dung cho một kênh, ngân sách quảng cáo của một nhóm sản phẩm, hay mảng SEO của website. Bạn tự lên kế hoạch, tự triển khai, tự chịu trách nhiệm về kết quả, và phải giải thích được khi kết quả không như mong đợi.

Khác biệt lớn nhất so với nấc trước: không còn ai đi sau sửa cho bạn. Nhiều người dừng ở nấc này khá lâu, và điều đó không có gì sai, vì nhiều chuyên viên giỏi thích làm chuyên môn hơn quản lý người.

Trưởng nhóm

Đây là nấc đổi nhiều nhất, theo tôi. Bạn bắt đầu chịu trách nhiệm cho kết quả của người khác. Thời gian tự tay làm giảm hẳn, thời gian họp, giao việc, sửa bài cho người khác, kèm người mới tăng lên. Có người giỏi chuyên môn mà lên trưởng nhóm thì khổ sở, vì cảm giác “tự làm còn nhanh hơn” cứ ám ảnh.

Tình huống: Năm đầu làm trưởng nhóm, tôi từng ôm lại gần hết bài của các bạn để tự sửa vì muốn chất lượng đều. Kết quả là tôi làm tới khuya, các bạn trong nhóm thì không tiến bộ vì không bao giờ được tự sửa bài của mình. Phải mất mấy tháng tôi mới tập được cách góp ý để các bạn tự sửa, chấp nhận vài bài chưa vừa ý mình. Nhóm khá lên rõ sau đó, còn tôi thì được ngủ sớm hơn.

Trưởng phòng marketing

Ở nấc này bạn lo kế hoạch và ngân sách cho cả năm, chọn ưu tiên giữa các kênh, tuyển người, làm việc với các phòng ban khác và báo cáo cho ban giám đốc. Bạn ít khi trực tiếp làm nội dung hay chạy quảng cáo, nhưng phải hiểu đủ sâu để biết đội mình đang làm đúng hay sai.

Kỹ năng then chốt ở đây là nói chuyện bằng ngôn ngữ kinh doanh. Ban giám đốc ít quan tâm lượt thích hay thứ hạng từ khóa, họ hỏi doanh thu, chi phí, khách hàng mới. Người chỉ nói được bằng thuật ngữ marketing thường gặp khó ở nấc này.

Giám đốc marketing

Thường gọi là CMO. Không phải công ty nào cũng có, nhiều nơi trưởng phòng báo cáo thẳng cho tổng giám đốc. Ở nấc này, việc chính là định hướng: thương hiệu đi về đâu, thị trường nào ưu tiên, marketing góp vào mục tiêu kinh doanh chung ra sao. Người ở đây thường đã đi qua nhiều mảng và hiểu cả sản phẩm, tài chính, con người.

II. Hai ngả rẽ, cả hai đều đáng đi

Khoảng giữa nấc chuyên viên và trưởng nhóm, bạn sẽ phải chọn, có khi không nhận ra là mình đang chọn.

Ngả chuyên môn sâu là trở thành người giỏi nhất nhóm ở một mảng: SEO, quảng cáo, phân tích dữ liệu, nghiên cứu khách hàng. Bạn ít quản lý người nhưng được hỏi ý kiến ở những chuyện khó nhất. Ở các công ty lớn và các công ty quảng cáo, người chuyên môn sâu có chỗ đứng khá vững.

Ngả quản lý là lo người, lo kế hoạch, lo ngân sách. Bạn đổi phần việc tự tay làm lấy phần việc giúp người khác làm tốt. Người hợp ngả này thường thích giải quyết vấn đề giữa người với người và chịu được việc không còn sản phẩm của riêng mình.

Ngoài hai ngả chính, còn những hướng rẽ ra ngoài: chuyển sang quản lý sản phẩm, làm tư vấn, nhận dự án tự do, hay tự kinh doanh. Nền tiếp thị dùng được ở rất nhiều chỗ. Tôi đã viết tổng quát hơn về cơ hội trong nghề marketing, bài này chỉ xoáy vào chuyện lên cấp.

Thu nhập ở mỗi nấc và mỗi ngả chênh nhau khá xa, tùy năng lực, kinh nghiệm, ngành, quy mô doanh nghiệp và cả thời điểm. Tôi không đưa con số, vì con số chung chung dễ làm người ta kỳ vọng sai.

III. Điều gì thật sự giúp bạn lên

Theo những gì tôi thấy, không phải thâm niên. Có người làm lâu vẫn đứng yên, có người vài năm đã dẫn nhóm.

Thứ đầu tiên là kết quả có thể chứng minh. Bạn làm gì, kết quả ra sao, có ghi lại không. Tôi khuyên ai cũng giữ một tệp riêng, cuối mỗi chiến dịch ghi vài dòng: mục tiêu, cách làm, kết quả, bài học. Đến lúc xin lên cấp hay đổi việc, tệp đó nói thay bạn.

Thứ hai là hiểu kinh doanh. Người làm marketing hiểu vì sao công ty cần doanh thu từ nhóm khách này chứ không phải nhóm khách kia, hiểu chi phí sản phẩm, hiểu bán hàng gặp khó ở đâu, thì đề xuất của họ thực tế hơn hẳn.

Thứ ba là học liên tục mà có chọn lọc. Nền tảng đổi, công cụ đổi, cách người dùng tiếp nhận nội dung đổi. Không cần chạy theo mọi thứ, nhưng phải đủ nhạy để biết lúc nào kỹ năng của mình bắt đầu cũ.

Và cuối cùng là người hướng dẫn. Gặp được một trưởng nhóm chịu kèm, chịu góp ý thẳng, có khi giúp bạn đi nhanh hơn nhiều năm tự mày mò. Nếu bạn đang chọn giữa hai nơi làm việc, tôi nghĩ nên hỏi kỹ ai sẽ là người quản lý trực tiếp của mình.

Tình huống: Một bạn đồng nghiệp cũ của tôi từ chối lời mời lên trưởng nhóm ở công ty đang làm để chuyển sang một nơi khác, vẫn ở vị trí chuyên viên, chỉ vì người quản lý mới nổi tiếng là kèm người rất kỹ. Hai năm sau bạn ấy dẫn một nhóm lớn hơn hẳn nhóm cũ từng mời mình. Không có công thức nào ở đây, chỉ là bạn ấy biết mình đang thiếu gì.

Quay lại câu hỏi ban đầu: làm bao lâu thì lên trưởng nhóm? Tôi vẫn không có con số. Nhưng nếu bạn biết mình muốn lên để làm gì, và đang tích lũy đúng thứ cho việc đó, thì câu hỏi “bao lâu” sẽ tự bớt quan trọng.

Hương

Cách viết CV marketing sao cho người tuyển dụng muốn gọi bạn đi phỏng vấn

Tôi đọc một CV marketing trung bình chưa tới một phút trong lượt lọc đầu tiên. Nghe phũ, nhưng ai từng tuyển người đều vậy, vì đợt nào cũng có rất nhiều hồ sơ. Trong chưa tới một phút đó, tôi tìm đúng một thứ: bạn này đã làm gì. Cách viết CV marketing mà tôi chia sẻ dưới đây xoay quanh đúng câu hỏi ấy.

I. CV marketing là một bài quảng cáo, và sản phẩm là bạn

Nghe hơi sáo, nhưng thật. Người làm marketing được trả tiền để giúp người khác hiểu nhanh giá trị của một sản phẩm. Nếu CV của bạn dài, rối, không rõ bạn giỏi gì, người tuyển sẽ nghĩ ngay: bạn này làm marketing cho chính mình còn chưa xong.

Vậy nên đừng nghĩ CV là bản liệt kê mọi thứ bạn từng làm. Nghĩ nó như một trang đích: người đọc là nhà tuyển dụng, thông điệp chính là “tôi làm được việc này cho bạn”, và mọi dòng trong đó phải phục vụ thông điệp đó. Dòng nào không phục vụ thì bỏ.

Trước khi viết, bạn nên đọc kỹ mô tả công việc của vị trí mình nộp, và hiểu nó nằm ở đâu trong nghề. Bạn nào chưa hình dung rõ các nhánh có thể đọc lại bài tôi viết cho người mới muốn ứng tuyển nghề marketing, rồi mới quay lại sửa CV theo từng tin tuyển.

II. Những phần nên có, và nên viết thế nào

Phần giới thiệu ở đầu: hai, ba câu thôi. Bạn theo hướng nào, mạnh ở đâu, đang tìm vị trí gì. Bỏ những câu kiểu “năng động, sáng tạo, ham học hỏi”, vì ai cũng ghi.

Phần kinh nghiệm là phần quan trọng nhất, tôi nói kỹ ở mục sau.

Phần kỹ năng: chọn lọc theo vị trí. Nộp vào chạy quảng cáo thì ghi trình quản lý quảng cáo đã dùng, bảng tính, công cụ phân tích. Nộp vào nội dung thì ghi các dạng nội dung đã làm, công cụ thiết kế. Đừng ghi cả hai mươi phần mềm bạn từng mở.

Phần học vấn và chứng chỉ: ngắn gọn. Chứng chỉ của các nền tảng là điểm cộng, ghi tên và năm là đủ.

Và một đường dẫn tới sản phẩm thật: portfolio, bài viết, kênh bạn từng quản lý. Với tôi, dòng này có khi giá trị hơn mọi phần còn lại.

III. Kể chiến dịch bằng việc và kết quả

Đây là chỗ phân biệt CV tốt và CV bình thường. Đa số người mới viết kinh nghiệm như mô tả công việc: “Phụ trách fanpage công ty”, “Viết bài chuẩn SEO”. Người đọc không biết bạn làm tốt hay làm cho có.

Cách tôi hay gợi ý là viết mỗi dòng theo ba ý: bạn làm việc gì, làm bằng cách nào, kết quả ra sao. Kết quả nên có số nếu bạn có số thật, kèm khoảng thời gian, và nói rõ đó là kết quả của riêng bạn hay của cả nhóm. Ví dụ cách diễn đạt, không phải số liệu thật:

– Tôi lên lịch và viết toàn bộ bài cho fanpage của một tiệm bánh trong ba tháng, chuyển từ đăng ảnh sản phẩm sang kể chuyện làm bánh, và lượng tin nhắn hỏi đặt bánh tăng rõ so với ba tháng trước đó.

– Tôi sửa lại tiêu đề và đoạn mở của hai mươi bài viết cũ trên blog công ty theo từ khóa người dùng hay tìm, sau đó lượt truy cập từ tìm kiếm vào nhóm bài này tăng dần trong các tháng tiếp theo.

Thấy khác chưa? Người đọc hình dung được bạn đã nghĩ gì và làm gì. Nếu bạn có số cụ thể, hãy ghi, nhưng phải là số bạn giải thích được khi bị hỏi.

Tình huống: Một ứng viên ghi “tăng doanh số gấp ba lần nhờ chiến dịch quảng cáo”. Tôi hỏi ngân sách bao nhiêu, chạy bao lâu, so với giai đoạn nào, bạn ấy trả lời không khớp. Hóa ra con số đó là của cả công ty trong mùa cao điểm, bạn chỉ tham gia một phần. Tôi không loại vì bạn ấy tham gia ít, tôi ngần ngại vì con số bị thổi lên. Ghi thật một kết quả nhỏ an toàn hơn nhiều.

IV. Người mới chưa có kinh nghiệm thì viết gì

Câu này tôi được hỏi nhiều nhất. Câu trả lời là: tạo ra kinh nghiệm trước khi viết CV. Một blog cá nhân bạn viết đều sáu tháng, một trang mạng xã hội cho câu lạc bộ ở trường, một dự án giúp cửa hàng của người quen, một chiến dịch nhỏ bạn tự bỏ tiền chạy. Tất cả đều được tính, miễn là bạn kể được làm gì và học được gì.

Tình huống: Một bạn sinh viên năm cuối nộp vào nhóm tôi với CV chỉ một trang, không có công ty nào. Nhưng bạn ấy có một kênh chia sẻ về cây cảnh tự làm từ năm hai, ghi rõ đã thử những kiểu nội dung nào, kiểu nào được lưu nhiều, đã học cách đọc thống kê ra sao. Bạn được gọi phỏng vấn trước nhiều hồ sơ có thực tập ở công ty lớn, vì bạn chứng minh được mình đã tự làm marketing thật.

V. Mấy lỗi hay gặp

Lỗi chính tả trong CV của người làm nội dung, cái này gần như bị loại ngay. CV quá màu mè, nhiều biểu tượng, khó đọc, nhất là khi nộp vào vị trí không liên quan thiết kế. Dùng một CV gửi cho mọi tin tuyển, không sửa theo vị trí. Ghi “thành thạo” mọi thứ. Để ảnh đại diện quá đời thường hoặc email kiểu biệt danh thời học sinh.

Sửa được mấy lỗi đó thì CV của bạn đã gọn hơn phần lớn hồ sơ tôi từng đọc. Phần còn lại là kiên nhẫn sửa theo từng tin tuyển, và luôn chuẩn bị để kể chi tiết về mọi dòng bạn đã viết.

Hương

Phần mềm, công cụ marketing thông dụng mà người mới nên làm quen trước

Bạn mở một tin tuyển dụng marketing ra, kéo xuống phần yêu cầu, và thấy một dãy tên phần mềm dài như thực đơn. Đọc xong dễ nghĩ mình phải học hết chừng đó mới được đi làm. Không phải đâu. Tôi đi làm nhiều năm vẫn có những công cụ chỉ mở vài lần một năm. Bài này tôi gom các phần mềm, công cụ marketing thông dụng theo nhóm việc, kèm ý kiến riêng về cái nào nên học trước.

I. Vì sao công cụ quan trọng, nhưng không phải thứ quan trọng nhất

Công cụ giúp bạn làm nhanh hơn và nhìn thấy những thứ mắt thường không thấy được, như khách vào trang từ đâu, ở lại bao lâu, bấm vào chỗ nào. Không có công cụ, bạn gần như làm việc mù.

Nhưng công cụ đổi liên tục. Giao diện đổi, tính năng đổi, có công cụ đang phổ biến vài năm sau đã ít người dùng. Thứ ở lại lâu là cách nghĩ: biết mình cần đo cái gì, cần làm ra cái gì, rồi mới chọn công cụ. Người tuyển dụng cũng hiểu điều đó, nên họ thường hỏi bạn đã dùng công cụ để làm việc gì, hơn là hỏi bạn biết bao nhiêu phần mềm.

II. Các nhóm công cụ, theo việc bạn phải làm

Tôi chia theo việc chứ không theo hãng, vì một người làm marketing ngày nào cũng chạm vào vài nhóm cùng lúc. Bảng dưới là những cái tên tôi thấy hay xuất hiện trong công việc thực tế ở Việt Nam [1].

Nhóm việc Ví dụ công cụ Người mới cần tới đâu
Phân tích truy cập, hành vi Google Analytics 4, Google Search Console, Google Tag Manager Đọc được báo cáo cơ bản, biết khách đến từ đâu
Thiết kế, dựng nội dung Canva, CapCut, Figma, bộ Adobe Tự làm được ảnh và video đơn giản đúng kích thước
Quảng cáo trả phí Google Ads, trình quản lý quảng cáo Meta, nền tảng quảng cáo của các ứng dụng video ngắn Hiểu cấu trúc chiến dịch, đọc được các chỉ số chính
Email, tự động hóa Mailchimp, HubSpot Soạn và gửi được một bản tin, đọc tỷ lệ mở
SEO Search Console, các công cụ nghiên cứu từ khóa trả phí Biết tra từ khóa và xem trang nào đang lên xuống
Quản lý việc nhóm Trello, Notion, Asana, Google Sheets Theo dõi đầu việc và hạn của chính mình

Bảng nhìn thì dài, nhưng nếu bạn mới bắt đầu, tôi chỉ khuyên ba thứ: một công cụ phân tích (Google Analytics 4 là phổ biến), một công cụ thiết kế dễ dùng (Canva), và bảng tính. Ba thứ đó dùng được ở gần như mọi nhánh. Phần còn lại học khi bạn đã chọn hướng. Nếu chưa rõ mình sẽ theo nhánh nào, bạn đọc lại bài tổng quan, trong đó tôi có nhắc sơ về công cụ trong nghề marketing gắn với từng vị trí, rồi quay lại bảng này chọn cho đúng.

III. Học công cụ thế nào cho đỡ phí công

Cách sai mà tôi hay thấy là xem thật nhiều video hướng dẫn, ghi chép thật kỹ, nhưng không làm gì thật. Một tháng sau quên gần hết.

Cách tôi thấy hiệu quả hơn là học theo việc. Bạn có một trang nhỏ cần làm ảnh? Mở Canva ra và làm, gặp gì không biết thì tra. Bạn có một blog cá nhân? Gắn Google Analytics vào, mỗi tuần mở ra xem một lần, tự đặt câu hỏi rồi tìm câu trả lời trong báo cáo. Đọc thêm tài liệu chính thức của nhà phát triển, vì hướng dẫn trên mạng hay bị cũ sau mỗi lần cập nhật giao diện.

Tình huống: Một bạn ứng viên ghi trong CV là “thành thạo Google Analytics”. Tôi mở thử một báo cáo, hỏi bạn ấy tuần trước người vào trang từ kênh nào nhiều nhất. Bạn ấy loay hoay khá lâu vì chỉ quen giao diện bản cũ trong khóa học. Không sao cả, nhưng giá mà bạn ghi “đã dùng để theo dõi blog cá nhân trong sáu tháng” thì tôi đã hỏi khác. Ghi đúng mức mình biết, kèm việc cụ thể, an toàn hơn chữ “thành thạo”.

Chứng chỉ miễn phí của các nền tảng như Google Skillshop, HubSpot Academy có ích để học có hệ thống, và là điểm cộng nhỏ. Đừng coi chúng là thứ quyết định.

IV. Còn AI thì sao

Các công cụ trí tuệ nhân tạo tạo chữ, tạo ảnh bây giờ có mặt ở gần như mọi phòng marketing. Tôi dùng chúng hằng ngày cho những việc như gợi ý dàn ý, viết nháp nhiều phương án tiêu đề, tóm tắt một tài liệu dài, viết công thức bảng tính. Chúng giúp tiết kiệm thời gian ở phần việc lặp lại.

Nhưng tôi chưa thấy chỗ nào AI thay được việc hiểu khách hàng và quyết định nói gì. Bài nháp do AI viết thường đúng mà nhạt, nhiều khi sai dữ kiện mà giọng rất tự tin. Người mới nên dùng như một trợ lý để làm nhanh hơn, và luôn tự kiểm lại thông tin trước khi đưa ra ngoài. Cũng nên để ý chính sách của công ty về việc đưa dữ liệu khách hàng vào các công cụ này [2].

V. Hỏi nhanh

Có nên mua phần mềm trả phí để học không?

Thường là chưa cần. Phần lớn công cụ có bản miễn phí hoặc dùng thử, đủ để học. Khi đi làm, công ty sẽ cấp tài khoản cho công việc.

Biết nhiều công cụ có giúp xin việc dễ hơn không?

Giúp một phần nếu bạn kể được đã dùng để làm gì. Một danh sách dài mà không có ví dụ thì không nói được nhiều.

Học Excel hay Google Sheets?

Cái nào cũng được, logic gần như nhau. Nhiều đội marketing dùng Google Sheets vì dễ chia sẻ, nhưng biết Excel vẫn có lợi khi làm báo cáo cho bộ phận khác.

[1] Danh sách chỉ mang tính ví dụ, tôi không nhận tài trợ từ hãng nào. Mỗi công ty có thể dùng công cụ khác tùy ngân sách và thói quen.

[2] Với dữ liệu cá nhân của khách hàng, nên hỏi bộ phận pháp chế hoặc quản lý trước khi đưa vào bất kỳ công cụ bên ngoài nào.

Hương

Kỹ năng cần có của người làm marketing mà ít khóa học nói tới

Mỗi lần nhóm tôi tuyển người, hồ sơ nào cũng ghi gần như giống nhau: sáng tạo, năng động, làm việc nhóm tốt, chịu được áp lực. Tôi đọc xong vẫn không biết bạn ấy làm được gì. Nên khi có bạn hỏi kỹ năng cần có của người làm marketing là gì, tôi không trả lời bằng mấy chữ đó. Tôi kể những thứ mà tôi thật sự để ý khi làm việc với người mới, xếp theo mức tôi thấy cần.

I. Viết rõ ràng, trước cả viết hay

Kỹ năng đầu tiên và cũng hay bị đánh giá thấp nhất. Làm nội dung, quảng cáo, SEO hay thương hiệu thì ngày nào bạn cũng phải viết: tiêu đề, mô tả sản phẩm, email cho đối tác, tin nhắn xin duyệt ngân sách, báo cáo cuối tuần. Người viết lòng vòng làm người đọc mất thời gian, và trong công ty thì người đọc thường là sếp.

Viết rõ là biết câu chính nằm ở đâu, bỏ được chữ thừa, và nói đúng với người đọc cần nghe. Cái này tập được. Cách tôi hay bảo các bạn: viết xong một email, thử xóa một nửa, xem còn thiếu gì không.

II. Đọc số liệu, ít nhất ở mức không sợ

Bạn không cần là nhà phân tích dữ liệu. Nhưng bạn phải đọc được một bảng số liệu chiến dịch mà không hoảng: hiểu tỷ lệ là gì, so sánh được tuần này với tuần trước, nhìn biểu đồ thấy chỗ nào bất thường, và quan trọng nhất là dám hỏi “vì sao”. Gần như mọi nhánh bây giờ đều báo cáo bằng số, kể cả những vị trí nghe rất “sáng tạo”.

Đi kèm là bảng tính. Excel hoặc Google Sheets, vài hàm cơ bản, biết làm bảng tổng hợp. Nghe khô, nhưng tôi thấy người mới biết bảng tính thường được giao việc thú vị sớm hơn.

Tình huống: Có hai bạn thực tập cùng đợt ở nhóm tôi. Một bạn viết rất có duyên, một bạn viết bình thường nhưng tuần nào cũng gửi kèm một bảng nhỏ ghi bài nào được đọc nhiều, bài nào bị bỏ ngang. Hết đợt, bạn thứ hai được giữ lại trước. Không phải vì bạn ấy giỏi hơn, mà vì sếp nhìn vào là biết bạn ấy đang nghĩ về kết quả.

III. Hiểu khách hàng, không phải đoán

Người làm marketing hay mắc một lỗi: lấy sở thích của mình làm sở thích của khách. Mình thích tông màu này, mình thấy câu này hay, mình nghĩ khách sẽ thích. Nghe khách nói thật thì hay khác hẳn.

Kỹ năng ở đây là thói quen đi tìm tiếng nói của khách: đọc bình luận, đọc đánh giá sản phẩm (của mình và của đối thủ), ngồi nghe bộ phận chăm sóc khách hàng kể khách hay hỏi gì, nếu được thì nói chuyện trực tiếp. Mỗi nhánh dùng hiểu biết này theo cách riêng, bạn có thể xem lại bài nghề marketing gồm những vị trí nào để thấy nó đi vào từng việc ra sao.

Khi tranh luận trong phòng họp không ngã ngũ, câu trả lời thường nằm ở một cuộc gọi với khách hàng thật.

IV. Chịu được sửa, và chịu được sai

Bài của bạn sẽ bị sửa. Ý tưởng bạn thích nhất sẽ bị gạt đi. Chiến dịch bạn tâm huyết có thể cho số liệu rất tệ. Đây là chuyện bình thường hằng tuần trong nghề này, không phải chuyện cá nhân.

Người làm được lâu là người tách được cái tôi ra khỏi sản phẩm: bị góp ý thì hỏi thêm cho rõ, thất bại thì ngồi xem lý do rồi thử cách khác. Tôi coi trọng kỹ năng này hơn cả sự sáng tạo, vì sáng tạo mà không chịu sửa thì rất khó làm việc cùng.

V. Giao tiếp với người không làm marketing

Bạn sẽ làm việc với thiết kế, kỹ thuật, bán hàng, kế toán, ban giám đốc. Mỗi bên quan tâm một thứ. Bán hàng muốn khách tiềm năng chất lượng, kế toán muốn biết tiền đi đâu, giám đốc muốn biết có lời không. Biết nói chuyện với từng người bằng thứ họ quan tâm, không dùng thuật ngữ để làm khó, là kỹ năng giúp bạn đi lên nhanh hơn nhiều so với chỉ giỏi chuyên môn.

Tình huống: Một bạn chuyên viên quảng cáo trong nhóm tôi từng đi họp với kế toán để xin tăng ngân sách, mang theo cả chục slide toàn chỉ số CTR, CPM. Kế toán nghe xong chỉ hỏi một câu: “Vậy mỗi đơn hàng tốn bao nhiêu, và lời bao nhiêu?” Bạn ấy không trả lời được ngay. Lần sau bạn chỉ mang một trang, ghi chi phí mỗi đơn và giá trị mỗi đơn, và ngân sách được duyệt sau mười phút.

VI. Còn sáng tạo, và cách tập mấy thứ trên

Còn sáng tạo thì sao? Có, cần, nhưng nó thường đến từ việc hiểu khách và đọc nhiều chứ không phải tự nhiên mà có. Nên nếu bạn từng nghĩ “mình không sáng tạo nên không hợp marketing”, thử lại xem. Mấy kỹ năng ở trên, ai chịu tập đều đặn trong vài tháng cũng thấy mình khác.

Cách tập thì không cần cầu kỳ. Mỗi tuần viết một bài ngắn và tự cắt đi một phần ba. Mỗi tuần mở một bảng số liệu, của chính blog hay trang cá nhân bạn cũng được, và tự đặt một câu hỏi rồi tìm câu trả lời trong đó. Mỗi tháng đọc kỹ một trăm bình luận khách hàng của một thương hiệu bạn thích, ghi lại những điều họ phàn nàn nhiều nhất. Làm vậy vài tháng, khi đi phỏng vấn bạn sẽ có chuyện thật để kể thay cho mấy chữ “năng động, sáng tạo”.

Hương

Chuyên viên chạy quảng cáo là gì, họ nhìn những chỉ số nào mỗi sáng

Người chạy quảng cáo mà tôi quen, gần như ai cũng có chung một thói quen: mở mắt ra là mở trình quản lý quảng cáo trên điện thoại trước khi đánh răng. Không phải vì nghiện việc. Mà vì tiền của khách hàng đang được tiêu từng phút, và một nhóm quảng cáo chạy sai qua đêm có thể đốt mất một khoản đáng kể trước khi ai kịp nhận ra.

Vậy chuyên viên chạy quảng cáo là gì? Nói ngắn thì đó là người cầm ngân sách quảng cáo trên các nền tảng số, quyết định tiền đi đâu, cho ai xem, và chịu trách nhiệm về con số cuối cùng. Phần còn lại của bài, tôi kể kỹ hơn.

I. Công việc, nhìn cho rõ

Tên tiếng Anh hay gặp là performance marketer, paid media specialist hay ads specialist [1]. Dù gọi thế nào, việc cốt lõi vẫn là ba phần.

Phần dựng: tạo chiến dịch, chọn mục tiêu (để nhiều người biết, để có người bấm vào trang, hay để có đơn hàng), chọn đối tượng, đặt ngân sách, ghép nội dung quảng cáo mà bên thiết kế và viết lời đã chuẩn bị.

Phần theo dõi: mỗi ngày đọc số liệu, tắt những nhóm quảng cáo kém, tăng tiền cho nhóm đang tốt, thử nội dung mới, thử đối tượng mới. Đây là phần chiếm nhiều thời gian nhất.

Phần báo cáo: tổng hợp kết quả cho sếp hoặc khách hàng, giải thích vì sao tuần này chi phí cho mỗi đơn tăng, đề xuất làm gì tiếp theo. Phần này nhiều bạn mới xem nhẹ, nhưng người chạy giỏi mà không giải thích được thì vẫn khó được tin giao thêm ngân sách.

Khác với SEO hay nội dung, kết quả ở đây đến gần như ngay. Hôm nay bật, chiều nay đã có số. Cái hay là phản hồi nhanh. Cái mệt cũng là phản hồi nhanh.

II. Chạy ở đâu

Mỗi nhóm nền tảng phù hợp một kiểu mục tiêu. Người mới thường bắt đầu với một nhóm, rồi mở rộng dần.

Quảng cáo trên công cụ tìm kiếm

Quảng cáo hiện ra khi người dùng gõ một từ khóa. Thế mạnh là bắt đúng người đang chủ động tìm, nên ý định mua thường cao. Công cụ hay dùng là trình quản lý quảng cáo của Google (Google Ads). Kỹ năng chính là chọn từ khóa, loại bỏ từ khóa không liên quan, viết mẫu quảng cáo ngắn mà rõ.

Quảng cáo trên mạng xã hội

Không chờ người ta tìm, mà chủ động đưa nội dung tới người có thể quan tâm, dựa trên độ tuổi, sở thích, hành vi. Hợp để tạo nhu cầu, ra mắt sản phẩm mới, kéo người chưa biết thương hiệu. Ví dụ quen thuộc là trình quản lý quảng cáo của Meta cho Facebook và Instagram, hay nền tảng quảng cáo của các ứng dụng video ngắn.

Quảng cáo hiển thị và video

Banner trên các trang web, quảng cáo chèn trong video. Thường dùng để tăng độ nhận diện và nhắc lại cho người đã từng ghé trang nhưng chưa mua. Ít khi là kênh chốt đơn chính, nhưng thiếu nó thì nhiều chiến dịch hụt hơi.

Bạn có thể hỏi: nên học nền tảng nào trước? Tôi thường trả lời là nền tảng mà khách hàng mục tiêu của bạn dùng nhiều nhất. Bán hàng tiêu dùng cho người trẻ thì mạng xã hội. Bán dịch vụ người ta chủ động đi tìm, như sửa máy lạnh, học lái xe, thì tìm kiếm. Nắm chắc một nền tảng rồi mới sang nền tảng thứ hai, vì cách nghĩ về đối tượng ở hai bên khác nhau khá nhiều.

Nói thêm một chút cho bạn nào đang chọn hướng: chạy quảng cáo thường là cửa vào khá nhanh của tiếp thị số, vì kết quả rõ ràng, dễ chứng minh năng lực. Nhưng nó chỉ là một chặng trong con đường phát triển trong nghề marketing, và người đi xa thường là người biết nhìn ra ngoài tài khoản quảng cáo của mình.

III. Những chỉ số phải thuộc

Đây là phần làm nhiều người mới hoa mắt. Tôi chỉ giữ lại những chỉ số mà ngày nào cũng phải nhìn.

Chỉ số Nghĩa là gì Tôi dùng nó để hỏi
Lượt hiển thị (Impressions) Số lần quảng cáo được hiện ra Quảng cáo có tới được người xem không?
CPM Chi phí cho mỗi nghìn lượt hiển thị Mua chỗ hiển thị đang đắt hay rẻ?
CTR Tỷ lệ người thấy quảng cáo rồi bấm vào Nội dung có đủ hấp dẫn đúng người không?
CPC Chi phí trung bình cho mỗi lượt bấm Mỗi người vào trang tốn bao nhiêu?
Tỷ lệ chuyển đổi (CVR) Tỷ lệ người bấm vào rồi làm hành động mong muốn Trang đích có làm tốt phần của nó không?
CPA Chi phí cho mỗi kết quả (đơn hàng, đăng ký) Có lời không, so với giá trị một khách?
ROAS Doanh thu thu về trên mỗi đồng chi quảng cáo Tổng thể chiến dịch có đáng tiền không?

Cái khó không phải thuộc định nghĩa. Cái khó là đọc chúng cùng nhau. CTR cao mà tỷ lệ chuyển đổi thấp thường nghĩa là quảng cáo hút người, nhưng trang đích không giữ được họ, hoặc quảng cáo hứa một đằng trang nói một nẻo. CTR thấp nhưng ai bấm vào cũng mua thì có khi nội dung đang lọc người rất tốt, chỉ cần mở rộng đối tượng một chút.

Mức nào là “tốt” thì không có đáp án chung. Nó tùy ngành, tùy sản phẩm, tùy giá bán, tùy giai đoạn [2]. Người chạy lâu năm thường so với chính lịch sử của tài khoản hơn là so với một con số trên mạng.

Tình huống: Một shop thời trang nhờ tôi xem tài khoản vì “quảng cáo không ra đơn”. Số bấm rất nhiều, chi phí mỗi lượt bấm cũng rẻ. Tôi bấm thử vào quảng cáo trên điện thoại thì trang đích mất gần mười giây mới hiện, nút đặt hàng nằm tít dưới cùng. Không phải quảng cáo kém, mà là người ta bỏ đi trước khi kịp xem sản phẩm. Shop sửa trang trước, giữ nguyên quảng cáo, đơn bắt đầu về. Từ đó tôi luôn bấm thử quảng cáo của chính mình trên điện thoại trước khi kết luận gì.

IV. Vào nghề thế nào cho đỡ tốn tiền

Học lý thuyết trước, nhưng đừng học quá lâu. Các nền tảng lớn đều có tài liệu và khóa học miễn phí cho người mới, như Google Skillshop hay Meta Blueprint, đủ để bạn hiểu các khái niệm và giao diện. Chứng chỉ của họ là điểm cộng nhỏ trên CV, không phải tấm vé.

Sau đó, chạy thật. Một ngân sách rất nhỏ, cho một sản phẩm thật, của chính bạn hoặc của người quen. Đặt mục tiêu rõ, chạy vài ngày, rồi ngồi đọc số liệu. Ghi lại bạn đã thử gì, kết quả ra sao, nếu làm lại thì sửa chỗ nào. Mấy trang ghi chép đó sẽ là câu chuyện mạnh trong buổi phỏng vấn.

Học thêm bảng tính. Nghe không hấp dẫn, nhưng người chạy quảng cáo dùng Excel hoặc Google Sheets gần như mỗi ngày để gộp số liệu, so sánh, làm báo cáo. Biết dùng bảng tổng hợp và vài hàm cơ bản giúp bạn nhanh gấp mấy lần.

Còn đường đi xa hơn? Từ chạy quảng cáo, nhiều người lên trưởng nhóm performance, rồi quản lý cả mảng tiếp thị số, vì họ hiểu tiền đi đâu và về đâu. Tôi chỉ nói thêm một ý: người chạy quảng cáo nào hiểu được cả sản phẩm, cả trang đích, cả khách hàng thì thường được tin giao việc lớn hơn người chỉ giỏi bấm nút. Thu nhập cũng tùy rất nhiều vào quy mô ngân sách bạn quản lý, năng lực, kinh nghiệm và nơi làm việc.

Về áp lực, tôi không giấu. Bạn cầm tiền của người khác. Có những tuần mọi thứ đi xuống mà chưa rõ vì sao, và bạn vẫn phải đứng ra giải thích. Người bình tĩnh, thích tìm nguyên nhân, không ngại sai rồi sửa sẽ chịu được. Người sợ trách nhiệm thì nên cân nhắc.

[1] Ở các công ty quảng cáo (agency), vị trí này có khi gọi là “media buyer” hoặc “digital executive”.

[2] Cách tính và tên gọi một số chỉ số có thể khác nhau đôi chút giữa các nền tảng. Nên đọc định nghĩa trong phần trợ giúp của nền tảng bạn dùng.

Hương

Social media marketing là gì, nhìn từ người ngày nào cũng trực trang

Mười một giờ đêm thứ bảy, điện thoại rung. Một khách hàng đăng ảnh món hàng bị giao nhầm màu lên trang của thương hiệu, kèm vài dòng khá gay gắt, và bên dưới đã có mấy chục bình luận hùa theo. Người phải trả lời lúc đó không phải giám đốc, cũng không phải bộ phận chăm sóc khách hàng đã nghỉ từ chiều. Là người quản lý kênh mạng xã hội.

Tôi mở đầu bằng cảnh này vì khi hỏi social media marketing là gì, nhiều bạn chỉ hình dung phần vui: nghĩ trend, quay video, đăng ảnh đẹp. Phần đó có thật. Nhưng phần trực trang, giữ bình tĩnh và giữ hình ảnh thương hiệu khi có chuyện cũng thật không kém.

I. Hiểu gọn trước đã

Social media marketing (tiếp thị trên mạng xã hội) là dùng các nền tảng mạng xã hội để xây dựng hình ảnh thương hiệu, tạo cộng đồng quanh nó, và kéo khách hàng về. Nó có hai nửa. Nửa tự nhiên: nội dung bạn đăng trên trang, tương tác với người theo dõi, không trả tiền. Nửa trả phí: quảng cáo trên chính các nền tảng đó để đưa nội dung tới người chưa biết bạn.

Ở nhiều công ty, người làm social lo chủ yếu nửa tự nhiên, còn nửa trả phí giao cho người chạy quảng cáo. Ở công ty nhỏ thì một người ôm cả hai.

Khác với website hay email, mạng xã hội là nơi khách hàng nói lại với thương hiệu, công khai, trước mặt mọi người. Chính điều đó làm nghề này vừa thú vị vừa căng.

II. Mỗi nền tảng một tính

Một sai lầm hay gặp là lấy cùng một nội dung đăng y nguyên lên mọi nơi. Người dùng mỗi nền tảng có thói quen rất khác nhau, nên cách nói cũng phải khác. Tôi tóm theo nhóm, không theo tên ứng dụng, vì ứng dụng thì lên xuống còn thói quen người dùng thì ít đổi hơn.

Nhóm nền tảng Người dùng vào để Nội dung hay hợp
Mạng xã hội chia sẻ chung Xem tin bạn bè, tham gia nhóm, đọc tin tức Bài viết, ảnh, thông báo, thảo luận cộng đồng
Video ngắn Giải trí, lướt nhanh Video bắt trend, hậu trường, mẹo ngắn
Thiên về hình ảnh Ngắm, lưu ý tưởng, tìm cảm hứng Ảnh chỉn chu, phong cách thẩm mỹ rõ ràng
Mạng nghề nghiệp Cập nhật ngành, tìm việc, kết nối Bài chuyên môn, câu chuyện doanh nghiệp, tuyển dụng

Bạn làm cho một thương hiệu mỹ phẩm sẽ dồn sức vào video ngắn và hình ảnh. Bạn làm cho một công ty phần mềm bán cho doanh nghiệp thì mạng nghề nghiệp có khi quan trọng hơn cả. Chọn kênh đúng đã là một nửa công việc. Nửa còn lại là những năng lực chung như hiểu khách, viết rõ, đọc số liệu, mà tôi đã kể kỹ hơn trong bài về kỹ năng cốt lõi của nghề marketing. Social chỉ là nơi những thứ đó bị thử thách hằng ngày, công khai, trước mặt khách hàng.

Một điều nữa người mới hay bỏ qua: kích thước ảnh, độ dài video, cách hiển thị chữ trên mỗi nền tảng mỗi khác, và chúng còn đổi theo thời gian. Ảnh đẹp trên một nơi có thể bị cắt mất nửa khi đăng sang nơi khác. Tôi hay giữ một tệp ghi chú riêng, mỗi lần nền tảng đổi gì thì cập nhật vào, đỡ phải đi tìm lại mỗi lần làm ảnh. Việc nhỏ, nhưng làm đều thì đỡ được rất nhiều lần sửa đi sửa lại với bên thiết kế.

III. Việc thường ngày, kể không màu mè

Buổi sáng thường là kiểm tra hộp thư và bình luận qua đêm, trả lời những gì cần trả lời, chuyển những gì cần bộ phận khác xử lý. Rồi đến lịch đăng bài: duyệt lại nội dung hôm nay, xem ảnh đã đúng kích thước từng nền tảng chưa, hẹn giờ đăng.

Buổi chiều có thể là quay một video ngắn ở văn phòng, ngồi với thiết kế làm ảnh cho tuần sau, hoặc lướt mạng có chủ đích để xem đối thủ đang làm gì, người dùng đang bàn chuyện gì. Cuối tuần là lên lịch nội dung cho tuần tới, thường làm trên một bảng tính chung để cả nhóm cùng nhìn.

Và có một phần việc không có giờ giấc: xử lý khủng hoảng nhỏ. Một bình luận phàn nàn, một bài đăng bị hiểu sai, một hình ảnh bị chỉ trích.

Tình huống: Trở lại cảnh mở đầu. Cách xử lý mà tôi thấy ổn là trả lời công khai thật sớm, ngắn gọn, nhận lỗi giao nhầm, xin khách nhắn riêng để đổi hàng, không tranh luận dưới bình luận. Sáng hôm sau, khi đã đổi hàng xong, quay lại cập nhật một dòng ngay dưới bài cũ. Nhiều người đọc thấy thương hiệu xử lý đàng hoàng, và chuyện tự lắng xuống. Cách làm ngược lại, xóa bình luận hoặc im lặng tới thứ hai, thường làm mọi thứ to hơn.

Trên mạng xã hội, cách thương hiệu trả lời một lời phàn nàn được nhiều người đọc hơn cả bài quảng cáo đắt tiền nhất.

IV. Đo thế nào cho khỏi tự lừa mình

Lượt thích là con số dễ nhìn nhất, và cũng dễ đánh lừa nhất. Tôi hay bảo các bạn nhìn thêm vài thứ: bao nhiêu người thật sự xem hết video, bao nhiêu người lưu hay chia sẻ bài, bao nhiêu người từ trang bấm sang website, bao nhiêu tin nhắn hỏi mua. Số theo dõi tăng nhanh nhưng không ai hỏi mua thì cần xem lại.

Mỗi nền tảng đều có phần thống kê riêng cho trang doanh nghiệp. Người mới chỉ cần quen đọc chừng đó là đủ, chưa cần công cụ phức tạp. Quan trọng là trước mỗi đợt nội dung, bạn ghi rõ mục tiêu là để nhiều người biết hơn hay để có thêm người hỏi mua, vì hai mục tiêu đó nhìn vào hai nhóm chỉ số khác nhau.

Về tính cách, nghề này hợp với người nhạy với văn hóa mạng, viết nhanh, giao tiếp khéo và không dễ bị kích động. Người hay để bụng lời chê sẽ khá mệt. Tôi từng thấy những bạn rất sáng tạo nhưng mỗi lần bị chê một bài là mất ngủ cả đêm, và sau vài tháng thì xin chuyển sang làm nội dung website cho đỡ phải đối mặt trực tiếp. Đó không phải là yếu kém, chỉ là không hợp. Nó cũng hay đòi bạn có mặt ngoài giờ, nên nếu bạn rất cần ranh giới rạch ròi giữa công việc và đời sống, hãy hỏi kỹ về lịch trực trước khi nhận việc.

V. Hỏi nhanh

Người mới có cần giỏi quay dựng video không?

Không cần giỏi ngay, nhưng nên biết cơ bản. Quay bằng điện thoại, cắt ghép bằng một ứng dụng dựng đơn giản là đủ để bắt đầu. Làm nhiều thì tay sẽ lên.

Bắt trend có phải lúc nào cũng nên?

Không. Trend nào không hợp với giọng thương hiệu, hoặc dính tới chuyện nhạy cảm, thì bỏ qua. Bắt trend sai còn tệ hơn không bắt.

Làm social có lên được vị trí cao không?

Có thể, nhưng thường bạn cần mở rộng ra: hiểu thêm quảng cáo, nội dung, thương hiệu, rồi lên vị trí quản lý truyền thông hoặc marketing nói chung. Ai chỉ biết đăng bài thì khó đi xa.

Hương

SEO là gì trong marketing, và chuyên viên SEO ngồi làm gì cả ngày

Bạn gõ “cách tẩy vết ố áo trắng” lên công cụ tìm kiếm, bấm vào kết quả thứ hai, đọc xong, tiện tay mua luôn một chai nước tẩy mà bài đó gợi ý. Bạn không hề thấy quảng cáo nào. Nhưng phía sau cái kết quả thứ hai đó là vài tháng làm việc của một người làm SEO. Hiểu SEO là gì trong marketing, theo tôi, là hiểu đúng cái cảnh đó.

I. Đi thẳng vào chuyện

SEO (Search Engine Optimization, tối ưu cho công cụ tìm kiếm) là làm cho trang web của bạn xuất hiện cao ở kết quả tìm kiếm tự nhiên, tức là phần không trả tiền cho từng lượt bấm. Người ta tìm cái gì liên quan đến sản phẩm của bạn, bạn muốn có mặt ở đó, đúng lúc họ đang cần.

Trong một phòng marketing, SEO nằm cạnh quảng cáo trả phí nhưng tính cách khác hẳn. Quảng cáo giống thuê mặt bằng: trả tiền là có chỗ, ngừng trả thì mất. SEO giống tự xây nhà: lâu, mệt, nhưng xây xong thì ở được dài. Đây là phần mà tôi hay xếp vào kiến thức nền của nghề marketing, vì gần như ai làm nội dung hay làm website cũng phải chạm vào nó.

II. Ba phần việc, và chúng chồng lên nhau

Phần đầu tiên là nội dung trên trang (on-page). Bạn nghiên cứu xem người ta tìm bằng những cụm từ nào, rồi viết hoặc sửa bài sao cho trả lời đúng câu họ hỏi, tiêu đề rõ, cấu trúc dễ đọc. Đây là phần nhiều người mới bắt đầu nhất, vì nó gần với viết.

Phần thứ hai là kỹ thuật (technical). Trang tải nhanh hay chậm, có xem tốt trên điện thoại không, công cụ tìm kiếm có đọc được hết các trang không, có trang nào bị lỗi, bị trùng không. Phần này cần hiểu website vận hành thế nào, thường phải phối hợp với lập trình viên.

Phần thứ ba là uy tín bên ngoài (off-page), mà chủ yếu là liên kết từ các trang khác trỏ về trang của bạn. Trang có nhiều nguồn đáng tin nhắc tới thì thường được đánh giá cao hơn. Phần này dễ bị làm ẩu nhất, và làm ẩu thì có thể bị phạt [1].

Ba phần chồng lên nhau chứ không tách rời. Một bài viết rất tốt mà trang tải chậm thì vẫn khó lên. Một trang kỹ thuật hoàn hảo mà nội dung mỏng thì cũng vậy.

III. Một tuần làm SEO trông thế nào

Đầu tuần tôi thường mở Google Search Console xem trang nào tụt hạng, trang nào có lượt hiển thị tăng mà ít người bấm. Rồi mở công cụ phân tích truy cập xem người vào từ tìm kiếm có ở lại không. Giữa tuần là nghiên cứu từ khóa cho bài mới, viết hoặc giao bài cho người viết, sửa lại những bài cũ đang tụt. Thỉnh thoảng có một buổi ngồi với bên kỹ thuật vì một lỗi nào đó làm hàng loạt trang biến mất khỏi kết quả.

Tình huống: Một khách hàng cũ của tôi đổi giao diện website, nhìn đẹp hơn hẳn. Hai tuần sau lượng truy cập từ tìm kiếm rơi mạnh. Lần theo mới biết đội thiết kế đã đổi toàn bộ đường dẫn bài viết mà không chuyển hướng từ đường dẫn cũ, nên mọi trang đang có thứ hạng đều thành trang lỗi trong mắt công cụ tìm kiếm. Sửa xong thì phải chờ thêm một thời gian thứ hạng mới dần quay lại. Từ đó tôi luôn đòi được xem trước mỗi lần đổi website.

Đó là phần không ai kể khi quảng cáo khóa học SEO: nhiều khi việc của bạn là đi gỡ lỗi, không phải sáng tạo.

IV. Ai hợp, ai nên cân nhắc

SEO hợp với người kiên nhẫn. Bạn làm hôm nay, có khi vài tháng sau mới thấy kết quả, và giữa chừng thuật toán có thể thay đổi làm bạn phải xem lại cách làm. Người cần thấy thành quả ngay thường nản ở nghề này.

Bạn cũng cần chịu đọc. Đọc tài liệu chính thức của công cụ tìm kiếm, đọc báo cáo, đọc chính nội dung của đối thủ để hiểu vì sao họ đứng trên mình. Người thích tìm hiểu “vì sao” sẽ thấy SEO giống một trò giải đố không bao giờ hết.

Có cần biết lập trình không? Không bắt buộc, nhất là khi bạn thiên về nội dung. Nhưng biết đọc một chút HTML, hiểu đường dẫn, chuyển hướng, sơ đồ trang là gì thì đỡ phụ thuộc người khác rất nhiều.

Cách bắt đầu rẻ nhất là tự dựng một trang nhỏ về chủ đề bạn thích, viết vài chục bài, gắn công cụ theo dõi và quan sát nó lớn lên trong vài tháng. Bạn sẽ học được nhiều hơn bất kỳ khóa học nào, và có ngay một thứ thật để kể khi đi phỏng vấn.

[1] Các công cụ tìm kiếm có chính sách riêng về liên kết mua bán hoặc liên kết giả tạo. Trang vi phạm có thể bị giảm thứ hạng.

Hương

Content marketing là gì và người làm nội dung thật sự làm những việc gì

Có một câu tôi nghe nhiều đến mức thuộc lòng: “Em viết văn cũng được, chắc làm content được chị nhỉ?” Có thể. Nhưng viết văn hay và làm nội dung cho doanh nghiệp là hai chuyện khác nhau khá xa. Bài văn hay là bài người đọc thấy xúc động. Bài content tốt là bài khiến đúng người đọc làm đúng một việc tiếp theo: lưu lại, hỏi giá, đăng ký, hoặc đơn giản là nhớ tên thương hiệu vào lần sau.

Nên trước khi bàn content marketing là gì theo sách, tôi muốn bạn giữ trong đầu chữ “đúng người” đó.

I. Định nghĩa, nói bằng lời của người làm nghề

Content marketing (tiếp thị nội dung) là cách thu hút khách hàng bằng nội dung có ích cho họ, thay vì nói thẳng “mua đi”. Một bài hướng dẫn chọn giày chạy bộ, một video giải thích cách đọc nhãn mỹ phẩm, một bài kể lại khách hàng đã dùng sản phẩm ra sao, tất cả đều là content marketing nếu nó giải được một thắc mắc thật.

Nguyên tắc tôi hay dặn: phục vụ người đọc trước, bán hàng sau. Nghe thì dễ, làm thì khó, vì sếp và khách hàng của bạn lúc nào cũng muốn thấy sản phẩm xuất hiện nhiều hơn trong bài.

Người đọc không nợ thương hiệu sự chú ý. Mình phải đổi bằng một thứ có ích cho họ, rồi mới mong họ ở lại.

Cái khó của nghề nằm đúng ở chỗ cân hai bên đó, sao cho nội dung vẫn dễ chịu với người đọc mà vẫn chạm được mục tiêu kinh doanh.

II. Nội dung không chỉ là bài viết

Nhiều bạn nghĩ làm content là ngồi viết bài cả ngày. Thực ra định dạng nội dung bây giờ rất nhiều, và mỗi kênh cần một kiểu. Muốn biết content đứng ở đâu so với các mảng khác, bạn có thể xem lại bài về các vị trí trong nghề marketing, còn ở đây tôi tóm các dạng hay gặp nhất.

Dạng nội dung Thường dùng để Ghi chú của tôi
Bài viết trên website, blog Kéo người tìm kiếm tới, xây uy tín chuyên môn Nên hiểu SEO cơ bản
Video ngắn Gây chú ý nhanh trên mạng xã hội Ba giây đầu quyết định gần hết
Ebook, tài liệu tải về Đổi lấy email hoặc số điện thoại của khách tiềm năng Phải thật sự có giá trị, nếu không sẽ mất uy tín
Bản tin email Giữ liên lạc với khách đã biết thương hiệu Tiêu đề email quan trọng ngang nội dung
Bài đăng mạng xã hội Duy trì tương tác, tạo cộng đồng Giọng văn khác hẳn website

Ở công ty nhỏ, một người có thể lo hết mấy dạng này. Ở công ty lớn, người ta tách ra copywriter (viết quảng cáo), content writer (viết bài dài), biên tập viên, người dựng video [1]. Bạn mới vào thì cứ thử nhiều dạng, làm rồi sẽ biết tay mình hợp với kiểu nào.

III. Một bài nội dung đi qua những bước nào

Phần lớn công sức không nằm ở lúc gõ phím. Tôi chia quy trình làm bốn bước, và bước viết thường chỉ chiếm phần nhỏ thời gian.

Trước khi viết

Bạn phải biết bài này cho ai đọc, họ đang gặp chuyện gì, và đọc xong bạn muốn họ làm gì. Tôi hay bắt các bạn mới ghi đúng ba dòng đó lên đầu file trước khi viết bất cứ chữ nào. Ai không ghi được ba dòng đó thì thường viết lan man.

Sau đó là nghiên cứu: người ta đang hỏi gì trên các nhóm, các diễn đàn, bình luận dưới bài của đối thủ, câu hỏi khách gửi về bộ phận chăm sóc khách hàng. Kho câu hỏi thật này quý hơn mọi công cụ gợi ý chủ đề.

Lúc viết và dựng

Lên dàn ý, chọn định dạng, viết bản nháp. Rồi sửa. Rất nhiều. Tiêu đề thường được viết lại năm sáu lần. Ảnh, đoạn mở, câu kêu gọi hành động cũng vậy.

Tình huống: Có lần nhóm tôi làm một bài hướng dẫn rất dài, rất kỹ cho một sản phẩm gia dụng. Đăng lên, người đọc vào nhiều mà rời đi rất nhanh. Xem kỹ mới thấy đoạn mở bài dài cả trang mới vào việc, trong khi người tìm chỉ muốn biết cách vệ sinh máy. Chúng tôi cắt đoạn mở xuống còn hai câu, đưa phần hướng dẫn lên đầu, và thời gian đọc tăng rõ sau đó.

Sau khi đăng

Phân phối đúng kênh, rồi xem số liệu: bao nhiêu người đọc, đọc bao lâu, bao nhiêu người làm hành động bạn mong. Không có chỉ số nào đúng cho mọi bài. Bài để kéo người mới thì nhìn lượt truy cập, bài để chốt khách thì nhìn số người để lại thông tin. Xong thì quay lại sửa bài cũ, việc mà nhiều người hay bỏ quên.

Tôi nói thêm về chuyện sửa bài cũ, vì đây là thói quen phân biệt người làm content lâu năm với người mới. Một bài đăng cách đây một năm có thể đã lỗi thời: giá sản phẩm đổi, hình ảnh cũ, có câu hỏi mới mà khách hay gửi về nhưng bài chưa trả lời. Cập nhật nó thường tốn ít công hơn viết mới, mà người đọc lại được phục vụ tốt hơn. Ở nhóm tôi, mỗi tháng có một buổi chiều chỉ để rà lại những bài cũ được đọc nhiều nhất. Không ai thích buổi đó, nhưng chưa lần nào làm mà không thấy có ích. Việc này cũng dạy người mới một điều: nội dung không phải đăng xong là hết trách nhiệm.

IV. Bắt đầu thế nào nếu bạn chưa có kinh nghiệm

Điểm dễ chịu của content là rào cản vào nghề không cao. Bạn có thể bắt đầu ngay tối nay bằng một blog cá nhân, một trang chia sẻ về sở thích, hay nhận viết giúp cửa hàng của người quen. Cái bạn cần là sản phẩm thật để cho người tuyển dụng xem, không phải lời tự giới thiệu.

Gom những bài đó lại thành một bộ mẫu (portfolio). Mỗi bài ghi chú ngắn: viết cho ai, mục tiêu gì, kết quả ra sao nếu có. Người tuyển dụng nhìn vào sẽ biết bạn nghĩ như người làm marketing chứ không chỉ là người viết.

Về lâu dài, tôi khuyên bạn học thêm ba thứ. SEO cơ bản, để bài viết có người tìm thấy. Một chút tâm lý người đọc, để biết vì sao người ta dừng lại hay lướt qua. Và đọc số liệu ở mức tối thiểu, để tự biết bài nào hiệu quả mà không cần chờ người khác báo.

Bạn không giỏi văn lắm? Vẫn có chỗ. Dựng video, thiết kế nội dung hình ảnh, lên ý tưởng chiến dịch đều thuộc nhà content. Viết rõ ràng thì ai cũng tập được, còn văn hoa thì nghề này thật ra ít cần hơn bạn nghĩ.

[1] Ranh giới giữa các chức danh này mỗi nơi một khác. Có công ty gọi chung tất cả là “content”.

Hương

Digital marketing là gì, gồm những mảng nào và người mới nên bắt đầu ở đâu

Hồi tôi mới đi làm, “digital” là một phòng nhỏ ngồi cuối hành lang, chuyên lo cái website và trang mạng xã hội. Giờ thì gần như cả phòng marketing đều làm việc trên kênh số, đến mức nhiều công ty bỏ luôn chữ digital trong tên phòng. Vậy nên khi có bạn hỏi tôi digital marketing là gì, tôi thường hỏi lại: bạn muốn biết định nghĩa, hay muốn biết người làm nó ngồi làm những gì cả ngày?

Cái thứ hai có ích hơn, nên tôi nói cái đó.

I. Gọn trong một câu, rồi gỡ ra

Digital marketing (tiếp thị số) là làm tiếp thị trên môi trường số: website, công cụ tìm kiếm, mạng xã hội, email, ứng dụng, quảng cáo hiển thị trên các trang khác. Thay vì in tờ rơi hay mua một mặt báo, bạn đưa thông điệp tới người dùng qua màn hình họ cầm hằng ngày.

Nghe thì giống tiếp thị truyền thống đổi kênh. Nhưng khác biệt lớn nhất, theo tôi, nằm ở chỗ đo được. Một tấm biển quảng cáo ngoài đường, bạn rất khó biết bao nhiêu người nhìn thấy rồi mua hàng. Còn một quảng cáo trên mạng, bạn biết bao nhiêu người thấy, bao nhiêu người bấm vào, ai ở lại trang bao lâu, ai bỏ giỏ hàng giữa chừng. Chính vì đo được nên người làm digital phải sống với số liệu, sửa chiến dịch theo ngày chứ không theo quý.

Bạn có thích điều đó không? Đây là câu tôi muốn bạn tự trả lời sớm.

II. Những mảng mà người ta hay gom vào chữ “digital”

Thay vì kẻ bảng, tôi kể theo thứ tự mà một khách hàng thường đi qua.

Đầu tiên là lúc người ta đi tìm. Họ gõ một câu hỏi lên công cụ tìm kiếm, và hai mảng xuất hiện ở đây: SEO, tức làm cho trang của bạn tự lên kết quả tìm kiếm mà không trả tiền cho từng lượt bấm, và quảng cáo tìm kiếm, tức trả tiền để xuất hiện ở các vị trí được gắn nhãn quảng cáo. Một bên chậm mà bền, một bên nhanh mà tốn.

Rồi đến lúc người ta lướt. Ở đây là mạng xã hội và quảng cáo mạng xã hội. Người làm social media lo nội dung và cộng đồng trên trang của thương hiệu, còn người chạy quảng cáo chọn đối tượng theo sở thích, độ tuổi, hành vi để đưa nội dung tới người chưa biết thương hiệu.

Khi người ta đã quan tâm, cần một thứ để họ đọc, xem, tin. Đó là phần của content marketing: bài viết, video, hướng dẫn, câu chuyện khách hàng.

Và sau khi họ đã mua hoặc đã để lại email, là email marketing và các kịch bản chăm sóc tự động, để họ quay lại lần nữa [1].

Bốn chặng đó hiếm khi tách rời. Một chiến dịch ra mắt sản phẩm thường có bài viết trên website, được đẩy bằng quảng cáo, cắt nhỏ lên mạng xã hội, rồi gửi email cho khách cũ. Muốn biết digital nằm ở chỗ nào trong toàn bộ nghề tiếp thị, bạn có thể đọc thêm bài tổng quan nghề marketing mà tôi viết trước đó, ở đây tôi chỉ đi sâu vào phần số.

III. Ngồi vào bàn thì làm gì

Một ngày điển hình của nhân viên digital ở công ty vừa, theo những gì tôi thấy, bắt đầu bằng việc mở bảng số liệu hôm qua. Chiến dịch nào đang tiêu tiền mà ít kết quả? Bài nào trên trang tự nhiên có nhiều tương tác bất thường? Có bình luận tiêu cực nào cần xử lý không?

Buổi trưa có thể là họp với bên thiết kế để chốt ảnh cho đợt khuyến mãi tuần sau. Buổi chiều viết nội dung, soạn email, đặt lịch đăng bài, cài lại đối tượng quảng cáo. Cuối tuần thì làm báo cáo, và báo cáo này luôn bị hỏi “vì sao số này giảm”.

Tình huống: Một bạn mới vào nhóm tôi được giao theo dõi một chiến dịch quảng cáo cho khóa học tiếng Anh. Hai tuần đầu số lượt bấm rất đẹp, bạn ấy rất vui. Đến khi đối chiếu với bên tư vấn thì gần như không ai trong số đó để lại số điện thoại thật. Hóa ra quảng cáo đang hút nhiều người bấm vì tò mò với hình ảnh, chứ không phải người có nhu cầu học. Bài học là số liệu đẹp ở một chỗ chưa chắc là kết quả thật ở cuối đường.

Kiểu sự cố đó xảy ra thường xuyên, và cách bạn lần ra nguyên nhân mới là thứ làm nên người làm nghề.

IV. Người mới nên bắt đầu từ đâu

Lời khuyên của tôi khá đơn giản: chọn một mảng để giỏi trước, hiểu sơ các mảng còn lại. Đừng đăng ký năm khóa học cùng lúc.

Bạn viết được, thích kể chuyện? Bắt đầu từ nội dung hoặc SEO. Bạn thích con số, thích thử và sửa? Thử quảng cáo trả phí với một ngân sách rất nhỏ, quảng bá cho một trang bán hàng của người quen chẳng hạn. Bạn nhạy với trend, hay lướt mạng? Social media có thể hợp.

Cái gì cũng nên làm thật một lần. Tự tạo một trang, tự viết, tự chạy vài ngày quảng cáo, tự đọc số liệu. Trải nghiệm tự bỏ tiền ra và nhìn nó “bay” dạy nhanh hơn rất nhiều giờ xem video hướng dẫn. Và đừng quên đọc tài liệu chính thức của nền tảng, vì giao diện và chính sách quảng cáo thay đổi khá thường xuyên, mẹo trên mạng có khi đã cũ.

V. Hỏi nhanh

Làm digital marketing có cần biết lập trình không?

Phần lớn vị trí thì không. Bạn cần hiểu website vận hành thế nào ở mức cơ bản, biết gắn mã theo dõi, biết dùng công cụ phân tích. Mảng SEO kỹ thuật thì cần hiểu sâu hơn một chút về cấu trúc trang.

Digital và marketing truyền thống, cái nào “hơn”?

Không có cái nào hơn. Nhiều thương hiệu vẫn cần biển quảng cáo, sự kiện, báo in. Khác biệt chủ yếu là kênh tiếp cận và mức độ đo đếm được.

Học xong có đi làm ngay được không?

Còn tùy bạn đã có sản phẩm thật để cho người tuyển dụng xem hay chưa. Chứng chỉ giúp được một phần, còn một chiến dịch nhỏ bạn tự làm, có số liệu trước và sau, thường thuyết phục hơn.

[1] Nhiều người gọi chuỗi chặng này là “phễu” (funnel). Mỗi công ty vẽ phễu một kiểu, tôi kể theo cách đơn giản nhất.

Hương

Nghề marketing thật ra làm gì mỗi ngày, và bạn có hợp với nó không

Tuần nào tôi cũng nhận được ít nhất một tin nhắn kiểu: “Chị ơi, em muốn làm marketing, nhưng em không biết marketing là làm gì.” Câu hỏi nghe ngây thơ, nhưng thật ra người đã đi làm vài năm cũng chưa chắc trả lời gọn được. Vì cái nghề này rộng quá. Một người viết bài trên fanpage cũng gọi là làm marketing, một người ngồi soát bảng số liệu quảng cáo đến chín giờ tối cũng là làm marketing, và người ngồi họp với ban giám đốc về định vị thương hiệu cũng vậy.

Nên bài này tôi không định đưa ra một định nghĩa thật đẹp. Tôi kể lại nghề marketing theo cách tôi vẫn kể cho các bạn thực tập ở công ty: nó làm gì, chia ra mấy nhánh, ai hợp nhánh nào, và đường lên cấp trông thế nào. Bạn đọc xong, tự hỏi lại mình vài câu, là đủ để biết có nên bước vào hay không.

I. Marketing không phải là bán hàng, dù hai bên ngồi cạnh nhau

Bạn thử nghĩ về một quán cà phê mới mở đầu hẻm. Ai đó phải quyết định quán bán cho ai (dân văn phòng hay sinh viên), giá bao nhiêu thì khách chịu, logo trông ra sao, ảnh đăng lên mạng thế nào, khai trương có giảm giá không, và sau một tháng thì biết khách đến từ đâu. Tất cả chỗ đó là marketing (tiếp thị). Còn bạn nhân viên đứng quầy tư vấn khách gọi món, chốt thêm một bánh ngọt, đó là bán hàng.

Nói gọn theo kiểu của tôi: bán hàng lo cái giao dịch trước mắt, còn marketing lo cho khách muốn bước vào quán từ trước khi họ đến. Hai việc phải phối hợp với nhau, nhưng thước đo khác nhau. Sales được tính bằng doanh số chốt được. Marketing thì thường bị hỏi những câu khó hơn: khách tiềm năng ở đâu ra, tốn bao nhiêu để có một người quan tâm, thương hiệu có được nhớ đến không.

Nhiều bạn mới vào nghề hay nghĩ marketing là “làm cho sản phẩm nghe thật hay”. Tôi thì nghĩ ngược lại.

Làm marketing tử tế là hiểu khách đủ kỹ để không phải nói quá về sản phẩm. Khi bạn hiểu họ cần gì, thông điệp tự nhiên sẽ ngắn lại.

Người làm nghề vì thế dành rất nhiều thời gian cho những việc không ai nhìn thấy: đọc bình luận của khách, nghe lại ghi âm cuộc gọi chăm sóc khách hàng, so sánh với đối thủ, xem số liệu tuần trước. Phần “sáng tạo” mà mọi người hay nghĩ tới chỉ là phần nổi.

II. Một phòng marketing thường chia ra những nhánh nào

Ở công ty nhỏ, có khi một người làm hết. Ở công ty vừa và lớn, phòng marketing thường tách ra nhiều vị trí, mỗi vị trí một kiểu ngày làm việc rất khác nhau. Tên gọi chức danh mỗi nơi một kiểu [1], nên bạn đừng quá bám vào chữ trên bản mô tả công việc, hãy đọc kỹ phần việc cụ thể.

Nhánh Ngày thường làm gì Hợp với người
Nội dung (Content Marketing) Lên ý tưởng, viết bài, kịch bản video, biên tập hình ảnh cho các kênh Thích viết, thích kể chuyện, chịu được việc sửa đi sửa lại
Tiếp thị số (Digital Marketing) Phối hợp website, mạng xã hội, email, quảng cáo thành một chiến dịch Thích nhìn tổng thể, chịu khó theo dõi nhiều kênh cùng lúc
SEO Nghiên cứu từ khóa, tối ưu bài viết và kỹ thuật website để lên kết quả tìm kiếm Kiên nhẫn, chịu được việc chờ kết quả nhiều tháng
Quảng cáo trả phí (Performance) Dựng chiến dịch, chỉnh đối tượng, đọc chỉ số, cân ngân sách mỗi ngày Thích con số, phản ứng nhanh, chịu áp lực chi tiêu
Mạng xã hội (Social Media) Lịch đăng bài, trả lời bình luận, theo dõi xu hướng, xử lý phàn nàn Nhạy với văn hóa mạng, giao tiếp khéo
Thương hiệu, nghiên cứu thị trường (Brand, Market Research) Phỏng vấn khách, phân tích đối thủ, giữ hình ảnh thương hiệu nhất quán Thích đào sâu “vì sao”, tư duy dài hạn

Bảng này chỉ là cách chia tương đối. Trên thực tế các nhánh dính chặt vào nhau. Một bài viết chuẩn SEO có thể được bên quảng cáo đẩy thêm, rồi bên mạng xã hội cắt ra thành nhiều bài ngắn. Bạn làm nhánh nào thì cũng nên hiểu sơ sơ các nhánh còn lại, nếu không sẽ rất khó nói chuyện với đồng nghiệp.

Còn trade marketing và event thì sao?

Ngoài các nhánh “trên mạng” ở trên, nhiều công ty hàng tiêu dùng còn có trade marketing (lo trưng bày, khuyến mãi tại điểm bán) và tổ chức sự kiện. Mấy mảng này ít được nhắc trên mạng xã hội nhưng tuyển người đều đặn, và hợp với bạn nào thích chạy ngoài hiện trường hơn ngồi máy tính. Tôi nhắc để bạn biết nghề này không chỉ có màn hình.

Bạn muốn xem doanh nghiệp đang thật sự cần những vị trí nào, ghi yêu cầu ra sao, thì có thể lướt qua danh sách việc làm tiếp thị đang đăng tuyển, đọc chừng hai chục tin là sẽ thấy nhánh nào được nhắc nhiều, kỹ năng nào lặp đi lặp lại.

III. Một ngày của người mới trông thế nào

Đây là chỗ nhiều bạn vỡ mộng nhất, nên tôi nói thẳng. Năm đầu tiên, phần lớn thời gian của bạn không phải là nghĩ ý tưởng lớn. Bạn sẽ soạn báo cáo tuần, kiểm lỗi chính tả trong bài đăng, xin ảnh từ bên thiết kế, gửi file cho đối tác, cập nhật bảng tính theo dõi chiến dịch, ngồi họp để ghi biên bản. Nghe chán, nhưng đó là cách bạn học được chiến dịch vận hành từ đầu tới cuối.

Tình huống: Một bạn thực tập ở nhóm tôi từng than là cả tháng chỉ được giao “dọn” bảng số liệu quảng cáo, gộp file, sửa định dạng. Đến tháng thứ hai, chính bạn ấy là người đầu tiên phát hiện một nhóm quảng cáo đang tiêu tiền vào khung giờ gần như không có đơn, vì bạn ấy là người nhìn số liệu kỹ nhất. Từ đó bạn được giao theo hẳn một chiến dịch nhỏ. Việc chán thường là cửa vào.

Khoảng năm thứ hai, thứ ba, bạn bắt đầu được tự lên kế hoạch cho một mảng, tự đề xuất ngân sách, tự chịu trách nhiệm về kết quả. Lúc đó áp lực khác hẳn: không còn ai sửa bài cho bạn trước khi đăng nữa.

IV. Kỹ năng nào thật sự cần, kỹ năng nào nghe hay nhưng phụ

Tôi hay chia làm hai nhóm cho dễ nhớ.

Nhóm thứ nhất là thứ nhánh nào cũng cần. Viết rõ ràng, vì kể cả bạn làm quảng cáo thì vẫn phải viết tiêu đề, viết báo cáo, viết email xin ngân sách. Đọc được số liệu ở mức cơ bản: biết tỷ lệ là gì, so sánh tuần này với tuần trước, nhìn biểu đồ thấy chỗ bất thường. Và hiểu khách hàng, tức là có thói quen hỏi “người mua nghĩ gì khi thấy cái này” trước khi hỏi “mình muốn nói gì”.

Nhóm thứ hai là kỹ năng theo nhánh. Làm SEO thì cần hiểu cách công cụ tìm kiếm đọc trang web. Làm quảng cáo thì phải quen với trình quản lý quảng cáo của từng nền tảng và các chỉ số chi phí. Làm nội dung thì cần biết dựng một bài từ dàn ý, chỉnh giọng văn theo từng kênh. Mấy cái này bạn chọn nhánh rồi hãy học sâu.

Còn mấy thứ nghe rất kêu như “tư duy chiến lược”, “tầm nhìn thương hiệu”? Có, nhưng nó đến sau. Người mới đem những từ đó vào CV mà không có ví dụ cụ thể thì thường bị hỏi vặn rất nhanh trong buổi phỏng vấn.

Bạn sáng tạo không giỏi lắm có làm được không? Được. Có nhánh như quảng cáo trả phí hay phân tích dữ liệu coi trọng sự cẩn thận và logic hơn là ý tưởng bay bổng. Ngược lại, bạn rất sợ con số thì nên cân nhắc kỹ, vì gần như nhánh nào bây giờ cũng phải báo cáo bằng số.

V. Đường lên cấp và mấy ngả rẽ

Lộ trình phổ biến mà tôi thấy ở các công ty khá giống nhau: thực tập sinh (intern), nhân viên, chuyên viên, trưởng nhóm, trưởng phòng marketing, và ở trên cùng là giám đốc marketing [2]. Tốc độ đi lên phụ thuộc rất nhiều vào kết quả bạn làm ra, môi trường bạn ở và cả may mắn gặp người hướng dẫn tốt. Có người vài năm đã dẫn nhóm, có người ở vị trí chuyên viên rất lâu vì thích làm chuyên môn hơn quản lý người.

Đến tầm trưởng nhóm, con đường thường tách hai ngả. Một ngả đi sâu chuyên môn, trở thành người mà ai gặp chuyện khó về SEO hay quảng cáo cũng phải hỏi. Ngả kia đi quản lý: lo ngân sách, lo con người, lo kế hoạch cả năm. Không ngả nào hơn ngả nào. Tôi biết những người chuyên môn rất giỏi nhưng làm quản lý thì khổ sở, và ngược lại.

Ngoài ra, nền tiếp thị còn dùng được ở nhiều chỗ khác: chuyển sang làm quản lý sản phẩm, làm tư vấn, nhận dự án tự do, hay tự mở một cửa hàng nhỏ. Thu nhập ở mỗi ngả khác nhau khá xa, tùy năng lực, kinh nghiệm, quy mô doanh nghiệp và thời điểm, nên tôi không đưa con số nào ở đây cả. Ai hứa với bạn một mức cụ thể chỉ sau vài tháng học thì bạn nên dè chừng.

Tình huống: Một chị đồng nghiệp cũ của tôi làm brand nhiều năm, đến lúc được đề bạt quản lý thì từ chối, xin chuyển sang làm nghiên cứu khách hàng chuyên sâu. Lúc đó nhiều người bảo chị dại. Mấy năm sau chị là người được các phòng khác mời họp nhiều nhất, vì không ai hiểu khách hàng bằng chị.

VI. Trước khi quyết định, tự hỏi mình mấy câu

Tôi không nghĩ ai cũng nên làm marketing. Có vài câu tôi hay bảo các bạn tự trả lời thật lòng.

Bạn có chịu được việc làm ra một thứ, đăng lên, rồi nhìn số liệu nói rằng nó thất bại không? Nghề này thử sai liên tục. Bạn có thích quan sát người khác, tò mò vì sao họ mua cái này mà không mua cái kia không? Bạn có chịu học lại khi một nền tảng đổi cách hoạt động, có khi chỉ sau vài tháng không?

Nếu ba câu đó bạn đều gật đầu, cách thử rẻ nhất là làm một dự án nhỏ. Quản lý trang của một cửa hàng người quen trong hai tháng, viết đều đặn, ghi lại số liệu trước và sau. Dù kết quả ra sao, bạn cũng có một câu chuyện thật để kể trong buổi phỏng vấn, và quan trọng hơn, bạn biết mình có thích ngồi với những việc đó mỗi ngày hay không.

VII. Hỏi nhanh

Không học ngành marketing thì có vào nghề được không?

Được. Tôi làm việc với nhiều người học báo chí, ngoại ngữ, kinh tế, thiết kế, thậm chí kỹ thuật. Bằng đúng ngành giúp có nền bài bản, nhưng người tuyển dụng thường hỏi bạn đã làm được gì hơn là bạn học trường nào.

Nên chọn nhánh nào khi chưa biết mình hợp gì?

Thử nhánh nội dung hoặc mạng xã hội trước, vì dễ có sản phẩm để thử. Làm vài tháng rồi bạn sẽ biết mình thích phần viết hay thích phần đọc số liệu, lúc đó rẽ sang nội dung sâu hơn hoặc sang quảng cáo, SEO.

Có cần học một khóa trả phí ngay không?

Không nhất thiết. Tài liệu miễn phí của chính các nền tảng khá đầy đủ cho người mới. Khóa học có ích khi bạn đã biết mình thiếu đúng phần nào.

[1] Cùng một việc, có nơi gọi là “content executive”, nơi khác gọi “chuyên viên nội dung” hay “copywriter”. Tôi dùng cách gọi tiếng Việt phổ biến trong bài.

[2] Thường gọi tắt là CMO (Chief Marketing Officer). Ở công ty nhỏ có thể không có cấp này, trưởng phòng báo cáo thẳng cho giám đốc.

Hương